magnesiumMagiê là gì ?

Magiê, tiếng Việt còn được đọc là Ma-nhê (Latinh: Magnesium) là tên một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn nguyên tố có ký hiệu Mg và số nguyên tử bằng 12.

Tính chất lý hóa học của magiê

Magiê là kim loại tương đối cứng, màu trắng bạc, nhẹ (chỉ nặng khoảng 2/3 nhôm nếu cùng thể tích) bị xỉn nhẹ đi khi để ngoài không khí. Ở dạng bột, kim loại này bị đốt nóng và bắt lửa khi để vào chỗ ẩm và cháy với ngọn lửa màu trắng. Khi ở dạng tấm dày, nó khó bắt lửa, nhưng khi ở dạng lá mỏng thì nó bắt cháy rất dễ. Khi đã bắt lửa, rất khó dập, nó có thể cháy trong nitơ (tạo ra nitrua magiê) và cả trong điôxít cacbon.

26Mg là đồng vị ổn định có ứng dụng trong địa chất học, tương tự như 26Al. 26Mg là sản phẩm phân rã của 26Al, có chu kỳ bán rã 717.000 năm. Sự giàu có của 26Mg ổn định được tìm thấy trong một số thiên thạch chonđrit cacbon giàu Ca-Al. Sự phổ biến bất thường của 26Mg là do sự phân rã của 26Al trong các thiên thạch này. Vì thế, thiên thạch phải được tạo ra trong tinh vân trước khi 26Al phân rã. Vì điều này, các mảnh vỡ thiên thạch là những vật thể già nhất trong hệ Mặt Trời và chúng chứa thông tin về lịch sử của hệ Mặt Trời trong giai đoạn đầu tiên của nó.

Nguồn gốc và điều chế

Tên gọi của nó có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, khi chỉ tới một khu vực ở Thessaly gọi là Magnesia. Người Anh Joseph Black nhận ra magiê là một nguyên tố vào năm 1755, Năm 1808, Sir Humphrey Davy bằng điện phân đã cô lập được kim loại magiê nguyên chất từ hỗn hợp của magnesia và HgO. Năm 1831, A. A. B. Bussy điều chế được nó trong dạng cố kết. Magiê là nguyên tố phổ biến thứ 8 trong vỏ Trái Đất. Nó là một kim loại kiềm thổ, vì thế không tồn tại trong tự nhiên ở dạng đơn chất. Nó được tìm thấy trong các khoáng chất như magnesit, đôlômit v.v.

Kim loại này được sản xuất thông qua điện phân clorua magiê nóng chảy, thu được từ các nguồn nước mặn, nước suối khoáng hay nước biển. Mặc dù magiê được tìm thấy trong hơn 60 khoáng chất, nhưng chỉ có đôlômit, magnesit, bruxit, cacnalit, bột tan, và ôlivin là có giá trị thương mại.

Cô lập:

  • Ở catot: Mg2+ + 2e- → Mg
  • Ở anot: 2Cl- → Cl2 (khí) + 2e-

Những ứng dụng của magiê

Các hợp chất của magiê, chủ yếu là ôxít magiê, được sử dụng như là vật liệu chịu lửa trong các lò sản xuất sắt và thép, các kim loại màu, thủy tinh hay xi măng. Ôxít magiê và các hợp chất khác cũng được sử dụng trong nông nghiệp, công nghiệp hóa chất và xây dựng. Nó được sử dụng để tạo các hợp kim nhôm - magiê dùng trong sản xuất vỏ đồ hộp, cũng như trong các thành phần cấu trúc của ô tô và máy móc. Ngoài ra magiê kim loại còn được sử dụng để khử lưu huỳnh từ sắt hay thép.

Các công dụng khác:

  • Magiê, giống như nhôm, là cứng và nhẹ, vì thế nó được sử dụng trong một số các thành phần cấu trúc của các loại xe tải và ô tô dung tích lớn. Đặc biệt, các bánh xe ô tô cấp cao được làm từ hợp kim magiê được gọi là mag wheels (tiếng Anh, nghĩa là bánh xe magiê).
  • Các tấm khắc quang học trong công nghiệp in.
  • Nằm trong hợp kim, nó là quan trọng cho các kết cấu máy bay và tên lửa.
  • Khi pha thêm vào nhôm, nó cải thiện các tính chất cơ-lý, làm nhôm dễ hàn và dễ chế tạo hơn.
  • Là tác nhân bổ sung trong các chất nổ thông thường và sử dụng trong sản xuất gang cầu.
  • Là chất khử để sản xuất urani tinh khiết và các kim loại khác từ muối của chúng.
  • Hiđrôxít magiê Mg(OH)2 được sử dụng trong sữa magiê, clorua magiê và sulfat magiê trong các muối Epsom và citrat magiê được sử dụng trong y tế.
  • Magnesit quá nhiệt được sử dụng làm vật liệu chịu lửa như gạch.
  • Bột  cacbonat magiê(MgCO3) được sử dụng bởi các vận động viên điền kinh như các vận động viên thể dục dụng cụ và cử tạ, để cải thiện khả năng nắm chặt dụng cụ.
  • Stearat magiê là chất bột màu trắng dễ cháy với các thuộc tính bôi trơn. Trong công nghệ dược phẩm nó được sử dụng trong sản xuất các viên thuốc nén, để ngăn cho các viên nén không bị dính vào thiết bị trong quá trình nén thuốc.
  • Các sử dụng khác bao gồm đèn flash trong nhiếp ảnh, pháo hoa, bao gồm cả bom cháy.

Vai trò của magiê đối với con người ?

Ở Pháp magiê là siêu sao về muối khoáng trong 30 năm nay. Chỉ sắt và calci có thể thay thế được vị trí siêu sao này. Ngày nay, kẽm và selen đã có vị trí quan trọng nhưng nó vẫn đứng xa magiê và hiện tượng này được phổ biến trên nhiều nước.

Lý do chính khiến magiê đạt được vị trí siêu sao là : magiê có vai trò như một tác nhân chống stress quan trọng.

Magiê được kê cho phụ nữ có thai dùng một cách có hệ thống và là tác nhân bảo vệ tim mạch. Nó được sử dụng trong bệnh viện nhiều nhất trong các khoa cấp cứu bệnh nhồi máu. Nhiều nghiên cứu mới đây chỉ ra rằng, magiê cũng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động chống lại các hiện tựợng được kết hợp với lão hóa. Cơ thể người lớn chứa 25 đến 30g, trong đó khoảng 70% được cố định ở xương, 29% ở mô mềm, 1% trong huyết tương.

Cation thứ hai của nội bào, tham dự vào các chuyển hóa đặc biệt của nội bào (glucid, lipid, protid, cân bằng kiềm toan, ôxy hóa khử, và đóng vai trò sinh lý quan trọng, được xác định bởi những rối loạn do thiếu hụt. Nó tác động lên quá trình tăng trưởng : giống như vitamin D, nó giúp calci và phospho cố định trên xương.

Magiê cũng cần thiết cho quá trình phát triển và hoạt động bình thường của tổ chức, đặc biệt ở 5 lĩnh vực.

- hoạt động của chuyển hóa

- hoạt động của não

- cân bằng ion

- miễn dịch, viêm, dị ứng

Thức ăn nào cung cấp magiê ?

Một trong những nguồn cung cấp tốt nhất của magiê là nước khoáng. Thức ăn giàu magiê nhất là đậu nành, cá, trái cây khô, loại hạt có dầu, rau xanh. Chocolat có chứa magiê nhưng dường như nó khó hấp thu, bởi sự có mặt của các chất béo no.’

Nhu cầu hàng ngày magiê là bao nhiêu ?

Hàm lượng magiê trong thức ăn đã giảm đều đặn từ một thế kỷ nay và đặc biệt trong thế kỷ vừa qua (lúa mì bị loại bỏ cám, đường, mỡ, thực vậttinh chế). Quá trình loại bỏ cám làm mất 96% magiê đường tinh chế làm mất 99,9%, bóc sạch vỏ lúa làm mất 83,3%. Ngược lại, các kỹ thuật nấu bếp tiến bộ khi có tác dụng tốt đối với muối khoáng, chẳng hạn : hấp hơi hay nấu rau trong một cái nồi sâu, dày không cần nước sẽ giữ được magiê tốt hơn (ngược lại mất 30 đến 50% khi nấu với nước).

Những trường hợp nào nhu cầu được tăng ?

Đó là phụ nữ nói chung, vì estrogen có một tác dụng kháng magiê. Trong chu kỳ kinh nguyệt, khi estrogen tăng thì lượng magiê giảm, một trong những lý do gây ra các rối loạn tiền kinh: đau bụng, căng vú, phù, giữ nước, dễ bị kích thích. Thuốc ngừa thai cũng làm tăng nhu cầu về magiê.

Có thai là thời kỳ mà estrogen tăng lên cao nhất và magiê giảm xuống thấp nhất. Ở Đức, phụ nữ có thai được nhận magiê một cách hệ thống, và ba nghiên cứu đã chứng minh rằng, điều này làm giảm tần suất của biến chứng khi có thai như co giật, rối loạn lúc chuyển dạ và cải thiện tình trạng sức khỏe của em bé lúc sinh.

Ngoài ra, bổ sung thêm magiê có khả năng làm giảm mạnh nguy cơ sinh non với đặc tính này bác sĩ phụ khoa sử dụng magiê bằng đường truyền tĩnh mạch để chống lại nguy cơ sinh non.

Stress làm tăng nhu cầu magiê. Thật vậy, khi bị stress thì adrenalin được giải phóng ra bởi tuyến thượng thận cố định trên những tế bào (tế bào cơ) hoặc sự đi vào của calci, calci này sẽ săn đuổi magiê làm cho lượng magiê trong máu tăng lên. Khi đó,thận nhận được nhiều magiê và phải làm việc để thải magiê ra nước tiểu. Do đó mất magiê hằng ngày tỉ lệ với stress.

Chứng ưa co thắt trên cơ địa di truyền cũng làm tăng phản ứng với stress, do khả năng giữ magiê trong tế bào kém. Đối với những người này, cần thiết phải bổ sung hàng ngày sao cho phù hợp với mức độ của stress.

Thể thao làm tăng nhu cầu về magiê, vì cần nó để sinh năng lượng và thích nghi với stress, đặc biệt thích nghi với tình trạng tim mạch. Lạnh, nhiệt, café, rượu, thuốc lợi tiểu, bệnh tiểu đường cũng làm tăng nhu cầu về magiê.

Thiếu magiê biểu hiện triệu chứng như thế nào? – Những ai dễ bị thiếu magiê ?

Phụ nữ cần nhiều hơn nam giới, vì họ là những người hay bị thiếu nhất: Thường có biểu hiện dễ mệt mỏi, tê cóng, co rút, run, đau cơ, đau đầu, có xu hướng lệch cột sống, bụng trướng, rối loạn về nhu động ruột,cảm giác ngộp thở, lo lắng, dễ kích thích với tiếng ồn, với stress, mất ngủ, nhịp tim tăng, tăng huyết áp, tiếng thổi ở tim, tăng thông khí, giả chóng mặt, không cân bằng khi bước đi, đau đầu…Tất cả triệu chứng này khiến stress càng nặng thêm. Ngày nay nó được giải thích bởi thiếu hay khả năng bắt giữ của tế bào đối với magiê kém và có liên quan đến cơ địa di truyền.

Người ta đã chứng minh rằng, hoạt động vận chuyển tế bào của magiê lệ thuộc vào các tác nhân di truyền. Nhóm HlaB35’ chiếm 18% trong dân chúng, khiến bắt giữ magiê vì vậy dễ kích thích với stress.

Một cách cổ điển, người ta có thể nghiên cứu trên dấu hiệu chvostesk và thực hiện đo điện cơ.

Định lượng, magiê trong máu hay hồng cầu vẫn còn bình thường, khoảng30% các trường hợp. Đặc biệt định lượng bài tiết magiê trong nước tiểu 24 giờ là có ích hơn. Hiện nay, trong một vài phòng thí nghiệm người ta có thể định lượng magiê trong bạch cầu. Ưa co thắt thường đi kèm với hai hiện tượng mà người ta có thể chẩn đoán bởi hỏi và định lượng sinhhọc. Quá trình tác động lên não xảy ra khi mất cân bằng của các chất dẫn truyền thần kinh và sự gia tăng stress, ôxy hóa các gốc tự do.

Trường hợp nào nên dùng magiê?

Tất nhiên là để phòng ngừa đối với các nhóm dễ bị tổn thương được đề cập ở trên. Phụ nữ đặc biệt người uống thuốc ngừa thai, có thai, cho con bú, ưa co thắt, bị stress, làm việc quá sức, căng thẳng, chơi thể thao, dùng một vài loại thuốc và ở người già.

Bằng đường uống đối với các trường hợp mất ngủ, mệt mỏi cùng các bệnh được liên quan với stress như : loét đường tiêu hóa, migraine, hội chứng tiền kinh, dị ứng và bệnh viêm, calci hóa mô mềm (sỏi thận, viêm quanh khớp vai). Người ta cũng sử dụng cho những người đái tháo đường để góp phần tạo điều kiện cho dung nạp glucose tốt hơn. Cuối cùng, được sử dụng ở bệnh viện, nhất là bằng đường truyền trong nhồi máu cơ tim cấp, trong loạn nhịp tim, co giật, nguy cơ đẻ non, hen suyễn.

Dùng magiê thường xuyên hay dùng liều cao hơn khuyến cáo của bác sĩ có nguy hiểm không?

Tốt hơn không nên dùng magiê khi bị viêm bàng quang (nguy cơ gây ra sỏi với phospho), nhược cơ, chậm nhịp tim và một vài tình trạng trầm cảm với lượng magiê trong hồng cầu cao. Liều phải được điều chỉnh nếucó suy thận.

Phần lớn muối magiê khó được hấp thu, ngay khi có tác dụng nhuận tràng. Tác dụng phụ là làm tăng nhu động ruột, do đó lựa chọn muối magiê cũng là khâu quan trọng một vài muối không có những tác dụng này và được hấp thu tốt hơn như là glycérophosphate magiê.

Tuy nhiên, cung cấp magiê vẫn không đủ, phải cố định nó. Để thực hiện được phải cho đi kèm với magiê môt chất cố định; vitamin B6. Ngày nay, khi kê đơn với mục đích này, liều cao B6 không được dùng nữa, vì về lâu dài nó có ảnh hưởng nguy hiểm cho dây thần kinh (nguy cơ bị liệt). B6 đã được thay thế bởi một dẫn xuất acid amin không độc, có một tác dụng hợp đồng với magiê đó là taurin.

Một số lưu ý về an toàn

Magiê kim loại và hợp kim là rất dễ cháy trong dạng nguyên chất và dễ chảy khi ở dạng bột. Magiê phản ứng và giải phóng nhiệt rất nhanh khi tiếp xúc với không khí hay nước, do vậy phải cẩn thận khi làm việc với chúng. Cần phải đeo kính khi làm việc với magiê. Ánh sáng trắng chói lòa của magiê có thể làm tổn thương mắt. Không được dùng nước để dập ngọn lửa cháy do magiê, vì nó làm ngọn lửa cháy to hơn, theo phản ứng sau:

Mg(rắn) + 2H2O(lỏng) → Mg(OH)2(dung dịch) + H2(khí)

Các bình cứu hỏa chứa điôxít cacbon CO2 cũng không được dùng do magiê cháy trong cacbonic. Phải dập lửa bằng cát hay các bình cứu hỏa bằng hóa chất khô cấp D (nếu có).

Mức cao nhất theo DRI để hấp thụ magiê là 350 mg/ngày. Triệu chứng chung của thừa magiê là tiêu chảy. Không được cấp cho trẻ em các loại hình thuốc chứa magiê.

BS.Phùng Hoàng Đạo

Hoahocngaynay.com

Nguồn Encyclopédie des minéraux

Hits smaller text tool iconmedium text tool iconlarger text tool icon

Comments powered by H2N2

Tin liên quan:
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

DANH MỤC TÀI LIỆU

Magiê