Hóa học quanh ta
Videoclip Hóa học
Tra cứu Hóa học

canxi_phospho_ca(H2N2)-Canxi và phospho là 2 loại khoáng chất chính cấu tạo nên bộ xương của các loài cá. Chúng tham gia vào sự duy trì và phát triển của bộ xương và một số hoạt động sinh lý khác trong cơ thể. Đây là 2 loại khoáng chất mà cá cần với lượng nhiều hơn các loại khoáng chất khác nhằm thỏa mãn nhu cầu của cơ thể.

Ngoài chức năng cấu tạo nên bộ xương, canxi còn đóng vai trò quan trọng trong việc đông máu, dẫn truyền xung động thần kinh, duy trì sự toàn vẹn của tế bào, cân bằng acid-base và hoạt hóa một số enzyme. Không giống như các động vật trên cạn, cá có thể hấp thu canxi trong môi trường nước. Nếu nguồn nước có hàm lượng canxi cao, cá có thể hấp thu canxi từ môi trường nước để thỏa mãn nhu cầu của cơ thể khi lượng canxi trong thức ăn bị thiếu hụt. Sự hấp thu canxi thường xảy ra ở mang, da và lớp biểu mô trong miệng cá, trong đó sự hấp thu qua mang là lớn nhất. Trong trường hợp hàm lượng canxi trong môi trường nước thấp và thức ăn không cung cấp đủ canxi, cá sẽ huy động canxi tích lũy trong xương và vảy để thỏa mãn nhu cầu của cơ thể. Sự huy động canxi này thường xảy ra trong quá trình phát triển buồng trứng của cá cái, khi cá bị bỏ đói hoặc trong quá trình di cư sinh sản. Các loài cá nước ngọt có thể hấp thu canxi qua mang và da để thỏa mãn nhu cầu canxi của cơ thể, trong khi các loài cá biển lại lấy canxi vào cơ thể bằng việc uống nước biển. Vì vậy, nhu cầu canxi trong thức ăn ở cá phụ thuộc vào thành phần hóa học của nguồn nước và loài cá. Chẳng hạn, ở một số loài cá hồi thì sự hiện diện của canxi trong thức ăn hiếm khi đóng vai trò do nhu cầu canxi trong thức ăn không xác định được. Trên cá chép và cá chình, nhu cầu canxi là 0,34% khẩu phần hoặc thấp hơn. Cá nheo Mỹ (Ictalurus punctatus) và cá rô phi có nhu cầu canxi lần lượt là 0,45% và 0,7% khẩu phần khi được nuôi trong môi trường nước không có canxi. Sự thiếu hụt canxi không xảy ra trên các loài cá chép và cá nheo trong môi trường nước ngọt hoặc cá hồi Đại Tây Dương (Salmo salar) trong môi trường nước mặn. Nhìn chung, lượng canxi có trong nguyên liệu thức ăn cung cấp đủ nhu cầu của hầu hết các loài cá vì chúng còn có thể hấp thu canxi từ môi trường nước.

Phospho là thành phần quan trọng của acid nucleic và màng tế bào. Chất khoáng này tham gia vào các phản ứng sinh hóa tạo năng lượng ở các tế bào. Ngoài ra, phospho còn tham gia vào quá trình biến dưỡng của các dưỡng chất như chất bột đường, chất béo và acid amin cũng như các quá trình biến dưỡng liên quan đến khả năng đệm của dịch cơ thể. Không giống như canxi, khả năng hấp thu phospho của cá trong môi trường nước rất hạn chế do hàm lượng phospho trong nước rất thấp. Vì vậy, thức ăn là nguồn cung cấp phospho chủ yếu cho các loài cá, kể cả cá nước ngọt và cá biển. Ở hầu hết các loài cá, những dấu hiệu của sự thiếu phospho là tăng trưởng chậm, giảm hiệu quả sử dụng thức ăn, giảm khoáng hóa xương, giảm hoạt tính cảu một số loại enzyme trong gan, tăng tích lũy mỡ trong cơ thể, giảm hàm lượng phosphate trong máu, xương đầu và xương sống bị biến dạng. Nhu cầu phospho của loài cá hồi vân (Oncorhynchus mykiss), cá hồi Đại Tây Dương (Salmo salar) và cá chép khoảng 0,5-0,8% khẩu phần. Trên cá nheo Mỹ (Ictalurus punctatus) và cá rô phi, nhu cầu phospho lần lượt trong khoảng 0,42-0,8% và 0,46-0,9% khẩu phần.

Phospho thường tồn tại ở 3 dạng: Monocalcium, phosphate (phosphate hóa trị 1), Dicalcium phosphate (phosphate hóa trị 2) và Tricalcium phosphate (phosphate hóa trị 3). Dạng phosphate có hóa trị càng thấp thì độ hòa tan càng cao, do đó sẽ có tỷ lệ hấp thu càng cao. Những loài cá có dạ dày như cá hồi, cá tra, cá nheo Mỹ có khả năng hấp thu các dạng phosphate khó hòa tan tốt hơn các loài cá không có dạ dày như cá rô phi, cá chép do dạ dày của chúng tiết ra acid giúp hòa tan phosphate trong thức ăn nhiều hơn.

Phospho trong các nguyên liệu cung cấp protein có nguồn gốc động vật thường có tỷ lệ hấp thu cao hơn các nguồn protein từ thực vật. Ở các loại hạt cung cấp protein như đậu nành, phospho thường tồn tại dưới dạng muối canxi hoặc ma-nhê của acid phytic, còn được gọi là phytin. Các loài cá thiếu enzyme phytase để giải phóng phospho từ phytin. Vì vậy, khả năng hấp thu phospho từ các loại protein thực vật thường thấp.

Kết quả của nhiều nghiên cứu đã cho thấy vai trò quan trọng của việc bổ sung canxi và phospho với tỷ lệ tối ưu. Khi tỷ lệ canxi/phospho trong thức ăn cao sẽ làm giảm khả năng hấp thu phospho và ngược lại, một khẩu phần thức ăn có tỷ lệ phospho/canxi cao sẽ hạn chế khả năng hấp thu canxi. Tỷ lệ canxi/phospho tối ưu sẽ tùy thuộc vào loài cá và dạng canxi, phospho bổ sung vào thức ăn. Cho đến nay, những nghiên cứu về tỷ lệ canxi/phospho tối ưu trên các loài cá không nhiều. Tỷ lệ canxi/phospho tối ưu trên loài cá hanh đỏ (red sea bream) là 1/2 và trên cá chình là 1/1.

Hiện nay, sản lượng bột cá cung cấp cho ngành nuôi trồng thủy sản có nguy cơ suy giảm, do đó giá bột cá trên thị trường thế giới ngày càng tăng. Vì vậy, các công ty sản xuất thức ăn thường có xu hướng thay thế bột cá bằng các nguồn protein có nguồn gốc thực vật. Khi tổ hợp công thức thức ăn có tỷ lệ protein thực vật cao, chúng ta cần lưu ý bổ sung phospho với hàm lượng cao hơn thức ăn chứa bột cá do phospho trong protein thực vật tồn tại dưới dạng kho tiêu hóa và hấp thu. Thức ăn cần cung cấp đủ phospho cho nhu cầu của từng loài cá để đảm bảo tốc độ tăng trưởng nhanh, tăng hiệu quả sử dụng thức ăn, rút ngắn thời gian nuôi và tăng hiệu quả kinh tế.

TS. Nguyễn Như Trí, Khoa Thủy sản, ĐH Nông Lâm TP.HCM

Nguồn uv-vietnam/Hoahocngaynay.com

Hits smaller text tool iconmedium text tool iconlarger text tool icon

Comments powered by H2N2

Tin liên quan:
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

DANH MỤC TÀI LIỆU

Nhu cầu canxi và phospho của các loài cá