startMiner - free and simple next generation Bitcoin mining software
Hóa học quanh ta
Videoclip Hóa học
Tra cứu Hóa học

tran-dauSự cố tràn dầu là hiện tượng dầu từ các phương tiện chứa, vận chuyển khác nhau, từ các công trình và các mỏ dầu thoát ra ngoài môi trường tự nhiên do sự cố kỹ thuật, thiên tai hoặc do con người gây ra.

1. Phân loại sự cố tràn dầu

* Phân loại SCTD  theo nơi tiếp nhận dầu tràn

- Tràn dầu trên đất liền:

+ Rạn nứt các thể tích các ống dẫn dầu: có thế do động đất, các mối hàn không đảm bảo chất lượng nên xảy ra trường hợp rạn nứt mối hàn… khiến dầu bị tràn ra môi trường.

+ Do phụt bể chứa: Các bể chứa chỉ có một thể tích nhất định, khi lượng dầu được xả vào bể quá mức sẽ gây ra hiện tưỡng tràn hoặc do sự thay đổi thời tiết làm cho thể tích dầu tăng lên cũng là nguyên nhân làm dầu từ các bể chứ trào ra.

+ Rò rỉ từ quá trình tinh chế, lọc dầu.

+ Rò rỉ từ quá trình khai thác, thăm dò trên đất liền.

- Tràn dầu trên biển

+ Rò rỉ từ các tàu thuyền hoạt động ngoài biển và trong các vịnh: Các tàu thuyền đều sử dụng nguồn nhiên liệu là dầu do đó khi các bình chứ dầu của thuyền không đảm bảo chất lượng khiến dầu bị rò rỉ ra biển.

+ Rò rỉ từ các giếng khoan dầu trên vùng biển thềm lục địa: Công tác xây dựng không đảm bảo làm cho dầu từ các giếng này đi ra môi trường.

+ Các SCTD do tàu và sà lan trở dầu bị đắm hoặc va đâm: Đây là nguyên nhân rất nguy hiển không những tổn thất về mặt kinh tế, môi trường mà còn đe dọa tới tính mạng con người.

- Tràn dầu trên sông

+ Dầu rò rỉ từ các bình chứa nhiên liệu của các tàu thuyền hoạt động trên sông.

+ Các SCTD do tàu và sà lan trở dầu bị đắm hoặc va đâm.

* Phân loại SCTD theo nguồn gốc dầu tràn

- Từ các hoạt động tàu thuyền

- Do chất thải công nghiệp và dân dụng đổ ra biển

- Dầu từ các tai nạn, sự cố giao thông đường thủy

- Dầu từ khí quyển

- Dầu rò rỉ khâu dự trữ

- Dầu từ các hoạt động dầu khí (thăm dò - khai thác)

* Phân loại SCTD theo chủng loại dầu tràn để ứng phó

- Dầu nhẹ, dễ bay hơi (light volatile oils) như: nhiên liệu chưng cất và dầu thô nhẹ nhất

- Dầu không nhớt (dính) như: Dầu thô và dầu tinh chế (có hàm lượng parafin từ trung bình tới nặng)

- Dầu nhớt (dính) nặng như: Dầu nhiên liệu dư (có hàm lượng asphal từ trung bình tới nặng)

- Dầu không bay hơi (non fluid oils) như: Dầu thô nặng

- Dầu nặng (sinking oils) như; Dầu thô, dầu nhiên liệu nặng

* Phân loại dầu tràn theo độc tố trong thành phần hóa học của dầu

Dầu mỏ là những hidrocacbon, có thành phần cơ bản là C và H. Từ thành phần dầu đến thành phần khí, hàm lượng H tăng dần. Tỷ lệ C/H được xem là một chỉ tiêu đặc trưng về thành phần dầu thô, vì tỷ lệ này tăng theo tỷ trọng dầu. Ngoài hidrocacbon, trong dầu thô còn thường xuyên có các nguyên tố N, O, S và một số kim loại khác ở dạng vi lượng. Bốn tổ phần hidrocacbon cơ bản trong thành phần dầu thô là: parafin, naften, hợp chất thơm (aromatic) và acetylen, ngoài ra còn có resin.

2. Phân loại mức độ sự cố tràn dầu

Sự cố tràn dầu được phân theo số lượng dầu tràn ở 3 mức từ nhỏ, trung bình đến lớn.

a) Sự cố tràn dầu nhỏ (mức nhỏ) là sự cố tràn dầu có lượng dầu tràn dưới 20 tấn;

b) Sự cố tràn dầu trung bình (mức trung bình) là sự cố tràn dầu có lượng dầu tràn từ 20 tấn đến 500 tấn;

c) Sự cố tràn dầu lớn (mức lớn) là sự cố tràn dầu có lượng dầu tràn lớn hơn 500 tấn.

Việc phân loại mức độ sự cố tràn dầu để xây dựng kế hoạch ứng phó và xác định mức độ đầu tư trang thiết bị, nguồn lực để chuẩn bị sẵn sàng, ứng phó kịp thời đối với các cấp độ ứng phó khác nhau.

3. Tác động của dầu tràn

Kể từ khi nhân loại biết khai thác và sử dụng dầu mỏ đến nay thì những sự cố trong việc khai thác, vận chuyển dầu mỏ trên thế giới đã trở thành mối đe dọa lớn đối với môi trường nói chung và các hệ sinh thái nói riêng.

SCTD làm ảnh hưởng đến môi trường đất, khí và đặc biệt gây nguy hại nghiêm trọng môi trường nước do hầu hết các vụ tràn dầu xảy ra trên biển hay các kênh rạch nơi có tàu thuyền qua lại. Khi SCTD xảy ra trên đất hoặc trên nước, không chỉ làm ô nhiễm môi trường hiện tại mà còn để lại những hậu quả nghiêm trọng và lâu dài về sau. Khi dầu tràn trên đất và trên nước xâm nhập vào bờ biển và bờ sông nếu không được xử lý thì để càng lâu dầu càng ngấm sâu. Một thời gian sau có thể trên mặt đất không còn dấu hiệu của dầu do bị nước thủy triều rửa trôi hay bị các lớp đất khác lấp lên, nhưng thực chất phần lớn lượng dầu tràn đã ngấm sâu xuống dưới, không thể tự phân hủy, làm nhiễm độc lâu dài môi trường đất và nước ngầm. Dầu nhiễm vào đất thì sẽ và tác động lên cây trồng làm chậm và giảm tỷ lệ nảy mầm của cây, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của các loại thực vật.

Tràn dầu hay xảy ra nhất trên lớp nước mặt của biển và người ta thấy rằng nó không chỉ ảnh hưởng lập tức đến khu vực xảy ra tai nạn tràn dầu mà nó còn ảnh hưởng lâu dài và rộng khắp trên cả các khu vực thường xuyên có tàu bè qua lại. Môt khi xảy ra sự cố tràn dầu, các loài phiêu sinh vật như ấu trùng, trứng cá, các loài thủy sản, hải sải, các loài thực vật như rong biển, tảo… ở nơi xảy ra sự cố và nơi dầu loang đến đều chịu ảnh hưởng nghiêm trọng. Ngay cả đối với loài động vật như chim, động vật có vú, chủ yếu sống trên cạn và chỉ tiếp xúc với môi trường biển cũng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi dầu loang trôi dạt vào bờ.

Ô nhiễm dầu gây nên ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, đặc biệt là hệ sinh thái như hệ sinh thái rừng ngập mặn, cỏ biển, vùng triều bãi cát, đầm phá và các rạn san hô. Ô nhiễm dầu làm giảm khả năng sức chống đỡ, tính linh hoạt và khả năng khôi phục của các hệ sinh thái. Ngoài ra, dầu tràn chứa độc tố làm tổn thương hệ sinh thái, có thể gây suy vong hệ sinh thái.

Dầu tràn gây nên những thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế và ảnh hưởng đến sức khỏe của con người. Dầu lan trên biển và dạt vào bờ trong thời gian dài không được thu gom sẽ làm suy giảm lượng cá thể sinh vật, gây thiệt hại cho ngành khai thác và nuôi trồng thủy, hải sản. Dầu gây ô nhiễm môi trường nước làm cá chết hàng loạt do thiếu ôxy hòa tan. Dầu bám vào đất, kè đá, các bờ đảo làm mất mỹ quan, gây mùi khó chịu đẫn đến doanh thu của ngành du lịch cũng bị thiệt hại nặng nề. Nạn tràn dầu còn làm ảnh hưởng đến hoạt động của các cảng cá, cơ sở đóng mới và sửa chữa tàu biển. Do dầu trôi nổi làm hỏng máy móc, thiết bị khai thác tài nguyên và vận chuyển đường thủy.

Ô nhiễm dầu ở Việt Nam bắt nguồn từ các hoạt động khai thác dầu khí và sự cố tràn dầu trên biển Đông. Hiện nay, Biển Đông đã trở thành một trong những vùng biển nhộn nhịp các điểm thăm dò và khai thác dầu khí. Nước ta có khoảng 340 giếng khoan thăm dò và khai thác dầu khí, phát triển mạnh ở các khu vực: Vịnh Bắc Bộ, Vịnh Thái Lan và Quần đảo Trường Sa. Hoạt động khai thác dầu khí ngoài việc thải nước lẫn dầu với khối lượng lớn, trung bình mỗi năm hoạt động này còn phát thải khoảng 5.600 tấn rác thải dầu khí, trong đó có 20 – 30% là chất thải rắn nguy hại còn chưa có bãi chứa và xử lý. Ngoài ra, hằng năm ước tính có khoảng 1 triệu tấn dầu mỏ tràn ra mặt biển do những sự cố ở các dàn khoan dầu. Các tàu chở dầu cũng làm thất thoát một lượng dầu mỏ ước tính tới 0,7% tải trọng của chúng trong quá trình vận chuyển thông thường.

Quyết định 02/2013/QĐ-TTg về Quy chế hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu do Thủ tướng Chính phủ ban hành

icon Quyết định về Quy chế ứng phó sự cố tràn dầu (148.5 kB)

Hoahocngaynay.com

Hits smaller text tool iconmedium text tool iconlarger text tool icon

Comments powered by H2N2

Tin liên quan:
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

DANH MỤC TÀI LIỆU

Phân loại và tác động của sự cố tràn dầu