Các thành phần cơ bản của son môi

Các thành phần cơ bản của son môi

Son môi có thành phần cơ bản là phẩm màu phân tán trên chất nền là một hỗn hợp các loại dầu, chất béo và sáp với tỉ lệ phù hợp. Loại mỹ phẩm này được sử dụng tạo sự hấp dẫn và quyến rũ cho đôi môi, nổi bật ưu điểm và che đi khuyết điểm vốn có. Ngoài ra, một số thỏi son còn có chức năng điều trị, tạo một lớp màng bảo vệ thân dầu để ngăn ngừa nứt và khô môi.

Một son môi tốt phải có những đặc tính sau:

  • Vẻ ngoài bắt mắt, bề mặt mịn màng và đều màu, không bị bọt khí hay nứt vỡ; ổn định trong suốt quá trình sử dụng và bảo quản, không bị chảy dầu, đóng vảy, cứng hoặc mềm hơn ban đầu, giòn và vỡ vụn khi nhiệt độ thay đổi.
  • Trơ về mặt dược lý, không gây hại khi thoa ngoài da hoặc nuốt phải.
  • Dễ sử dụng, tạo lớp màng không quá nhờn cũng không quá khô trên môi, bám màu tốt nhưng cũng dễ rửa trôi, màu sắc ổn định.

Thành phần của son môi

Phẩm màu

Màu sắc của thỏi son là một trong những nhấn quan trọng của sản phẩm, quyết định thị hiếu mua hàng, thay đổi tùy theo thời điểm do chịu ảnh hưởng từ thời trang. Phẩm màu đỏ có thể tạo ra thỏi son có dải màu từ vàng cam – đỏ thật – xanh tím – nâu đỏ, đôi khi không còn nhận ra màu xanh lá cây và xanh lam trong sản phẩm. Độ sâu của màu sắc, độ bóng khi thoa và thể chất đục mờ cũng rất đa dạng. Trong thời kỳ mà xu hướng thời trang là “trang điểm cũng như không”, các thỏi son bóng (lip gloss) không màu hoặc có tone màu nhẹ với độ bóng cao được bán rộng rãi trên thị trường. Độ bóng của son được tạo ra nhờ các phẩm màu sáng, đặc biệt là titan dioxid và sắt oxid được tráng mica.

Màu sắc trên môi được tạo ra theo 2 cách: (1) nhuộm da bằng một dung dịch thuốc nhuộm, có thể thấm qua lớp ngoài cùng của môi. (2) bao phủ môi bằng nhiều lớp khác nhau, che đi bề mặt khô nhám và tạo sự mềm mịn cho môi. Cách (2) yêu cầu công thức phải chứa các loại phẩm nhuộm và phẩm màu không tan có thể điều chỉnh độ đục cho màng phim.

Bảng 1. Tỉ lệ đặc trưng các thành phần tạo màu cho son môi

Thành phần %
Phẩm nhuộm (bromoacid) 0-0,2
Phẩm màu không tan 8-10
Titanium dioxid 0-4
Phẩm màu sáng 0-20

Bảng 2. Tình trạng sử dụng của các phẩm màu thường gặp trong son môi

Phẩm màu Ở Mỹ Ở EU; CI# Ở Nhật; tên gọi
D&C Red #6 Cho phép Cho phép; 15850 Cho phép; Red 201
D&C Red #6 Ba Lake Cho phép Cho phép; 15850 Không cho phép
D&C Red #7 Ca Lake Cho phép Cho phép; 15850 Cho phép; Red 202 mixture
D&C Red #21 Cho phép Cho phép; 45380 Cho phép; Red #223
D&C Red #21 Al Lake Cho phép Cho phép; 45380 Không cho phép
D&C Red #22 Al Lake Cho phép Cho phép; 45380 Cho phép; Red 230(1) Lake
D&C Red #27 Cho phép Cho phép; 45410 Cho phép; Red 218
D&C Red #27 Al Lake Cho phép Cho phép; 45410 Không cho phép
D&C Red #28 Al Lake Cho phép Cho phép; 45410 Cho phép; Red 104(1) Lake
D&C Red #30 Lake Cho phép Cho phép, 73360 Cho phép, Red 226 mixture
D&C Red #33 Al Lake Cho phép Cho phép, 17200 Cho phép, Red 227 Lake
D&C Red #33 Zr Lake Tối đa 3% Không cho phép Không cho phép
D&C Red #36 Tối đa 3% Tối đa 3%; 12085 Cho phép; Red 228
D&C Orange #5 Tối đa 5% Cho phép; 45370 Cho phép; Orange 201
D&C Orange #5 Al Lake Tối đa 5% Cho phép; 45370 Không cho phép
FD&C Blue #1 Al Lake Cho phép Cho phép; 42090 Cho phép; Blue 1 Lake
FD&C Yellow #5 Al Lake Cho phép Cho phép; 19140 Cho phép; Yellow 4 Lake
FD&C Yellow #6 Al Lake Cho phép Cho phép; 15985 Cho phép; Yellow 5 Lake
D&C Yellow #10 Al Lake Cho phép Cho phép; 47005 Cho phép; Yellow 203 Lake
Các thành phần cơ bản của son môi

Phẩm nhuộm

Các phẩm nhuộm được sử dụng nhiều trước đây là dẫn xuất halogen của fluorescein, thường được gọi là bromoacid – một thuật ngữ ban đầu được dùng cho acid eosin, tetrabromofluorescein.

Eosin

Eosin còn được gọi là D&C Red No.21, là một hợp chất màu cam không hòa tan chuyển thành dạng muối màu đỏ đậm khi pH > 2. Khi thoa dạng acid lên môi, hợp chất này có thể bị trung hòa bởi các mô môi và tạo ra một vết đỏ tím tương đối khó lau sạch.

Các phẩm nhuộm halogen hóa khác có thể được sử dụng đơn lẻ hoặc kết hợp để tạo màu có độ bám khác nhau. Do đó, D&C Red No.27 tetrachlorotetrabromofluorescein tạo màu đỏ lam rực rỡ và D&C Orange No. 5 dibromofluorescein có màu cam sẽ chuyển sang dạng muối màu đỏ khi pH > 4 thường được sử dụng cùng với D&C Red No.21.

Eosin và một số dẫn xuất có thể gây phản ứng quá mẫn hoặc tăng cảm ánh sáng, dẫn đến viêm môi (viêm phần mô màu đỏ của môi). Hơn nữa, phẩm màu không thể tạo được sự đa dạng về màu sắc. Hiện nay, thuốc nhuộm màu được sử dụng chủ yếu trong các loại son gió, màu sắc son sẽ thay đổi khi gặp các chất hóa học trên môi. Sản phẩm này không sử dụng hoặc chỉ dùng phẩm màu với độ tương phản cực thấp như FD&C Blue # 1 Lake, son sẽ tạo màu đỏ khi thoa lên môi. Một số loại son lâu trôi có chứa lượng ít một hoặc nhiều loại phẩm màu.

Trước đây, phẩm nhuộm bromoacid không tạo được sự phân tán đồng nhất trong khối son, dẫn đến sự không đều màu, vì vậy thành phần này hiện chỉ được sử dụng với hàm lượng thấp ở dạng không hòa tan và phối hợp với những phẩm nhuộm khác được nghiền mịn trong công thức. Để ngăn chặn sự chuyển sang dạng muối gây biến màu của bromoacid, các nhà bào chế có thể thêm 0,1% acid citric vào công thức.

Phẩm màu

Phẩm màu hữu cơ và vô cơ được sử dụng phối hợp để tạo nên sự đa dạng về màu sắc. Phẩm màu trắng titanium dioxide được dùng với hàm lượng lên đến 4% để tạo ánh hồng và màng film đục mờ trên môi. Tuy nhiên, cần thận trong khi lựa chọn loại titanium dioxide anatase hay rutile vì bất kỳ phương pháp xử lý bề mặt nào cũng ảnh hưởng đến tính thân dầu và khả năng phối hợp của hợp chất, dễ dẫn đến các sự cố như đổ dầu, nổi sọc, xỉn màu hay thỏi son dễ bị thô cứng.

Bismuth oxychloride

Hợp chất này có màu trắng, tỉ trọng cao, được sử dụng như chất tạo đục cho ánh ngọc trai của sản phẩm, ít gây ảnh hưởng tiêu cực đến tính toàn vẹn của son hơn titanium dioxide, hấp thụ dầu kém và tạo cảm giác mịn màng trên môi. Dạng đục mờ có thể tạo ra độ óng ánh như kem.

Sắt oxid

Sắt oxid được sử dụng để tạo màu nâu đỏ và nâu, thành phần này khi được xử lý bề mặt có thể cải thiện khả năng làm ướt. Màu xanh ultramarine (sắt ferrocyanide) và phẩm màu crom ở Hoa Kỳ chỉ sử dụng ngoài da, vì vậy không được sử dụng với màng nhầy như môi.

Phẩm màu hữu cơ

Các phẩm màu hữu cơ, chủ yếu là các màu lake có thể tạo được tone màu sáng như đỏ, cam và tím hiện đang rất được ưa chuộng. Màu lake là dạng phẩm màu không hòa tan được điều chế bằng sự kết tủa của phẩm nhuộm tan trong nước với ion kim loại trên chất nền. Điển hình là sự kết tủa của FD&C Blue # 1 với ion nhôm vào alumina để tạo thành FD&C Blue #1 Aluminum Lake. D&C Red No.36 không tan trong cả nước và dầu nên được xếp vào nhóm phẩm màu. Phẩm màu lake của nhóm màu D&C với ion kim loại nhôm, bari, calci và stronti rất phù hợp để sử dụng trong son môi; khi lựa chọn cần lưu ý khả năng phản ứng của phẩm màu với chất nền, ví dụ như sự hình thành xà phòng kim loại với acid béo tự do, tình trạng này thường gặp ở những màu lake của kim loại nhôm.

Những phẩm màu lake thường được sử dụng nhất trong son môi:

  • Calcium lake của D&C Red No 7, đỏ đậm tới đỏ-xanh
  • Barium lake của FD&C Yellows #s 5, vàng chính thống
  • Aluminum lake của FD&C Blue #1
  • Aluminum lake của D&C Reds #22, red, and #28, magenta sáng

Khi màu D&C nguyên bản bị hạn chế, các màu lake cũng bị hạn chế tương tự. Phẩm màu thường và màu lake được sử dụng trong công thức với hàm lượng từ 4% đến 10%.

Phẩm màu pearlescence (tạo độ bóng)

Đây là thành phần được dùng để tạo độ đục mờ và ánh ngọc trai cho sản phẩm, phố biến nhất của nhóm này là mica với lớp áo titanium dioxid, sắt oxid hay bismuth oxychloride với hàm lượng sử dụng có thể lên đến 20%. Tuy nhiên, công thức chứa quá nhiều màu mica sẽ làm son khô, giòn và dễ gãy.

Phẩm màu độn

Phẩm màu độn trong son môi dùng để điều chỉnh thể chất, giảm hiện tượng đông cứng ở lớp ngoài và cải thiện lớp màu khi thoa. Hạn chế sử dụng quá nhiều phẩm màu độn, nhất là talc vì có thể làm thỏi son trở nên mềm, kém ổn định, giòn và dễ gãy. Hạt mica mịn thường được thêm vào kem để giảm độ dầu và cải thiện cảm giác khi sử dụng.

Nguyên liệu thân dầu

Ngoài màu sắc, chất lượng sản phẩm trong quá trình sản xuất, bảo quản và sử dụng sẽ bị ảnh hưởng nhiều bởi thành phần chất béo tạo nền son. Chất lượng này chủ yếu liên quan đến lưu biến của hỗn hợp ở các nhiệt độ khác nhau. Ví dụ trong quá trình sản xuất (thường là nhiệt độ ấm), nghiền khối bột và phân tán đều các màu không hòa tan, sau đó mới tiến hành đổ khuôn. Trong khuôn, son phải khô nhanh, có đặc tính bề mặt và khả năng phóng thích tốt. Sản phẩm phải duy trì được sự ổn định và độ cứng phù hợp trong hạn sử dụng, nhưng phải đủ mềm khi tiếp xúc và có độ lan tỏa tốt để tạo thành một lớp màng film mỏng trên môi có độ bám tốt, không dễ bị lem, trôi khi ăn uống.

Dung môi bromoacid

Nhiều chất béo thông thường được sử dụng tạo nền son quá kém phân cực để hòa tan thuốc nhuộm, vì vậy nên sử dụng thêm một ít eosin vào công thức để hỗ trợ đặc tính này. Để hòa tan một lượng thấp thuốc nhuộm bromoacid hiện đang sử dụng, có thể sử dụng alcol béo dạng lỏng, dipropylene glycol, ester phân cực cao hoặc dầu thầu dầu. Nhìn chung, dầu thực vật phân cực có thể hòa tan eosin tốt hơn nhưng lại kém ổn định do quá trình oxy hóa, dầu khoáng ổn định hơn nhưng lại hòa tan kém.

Bảng 3. Độ tan của eosin

Dung môi Độ tan ở 20oC (%)
Dầu thầu dầu 0,20
Bơ cacao 0,35
Diisopropyl adipate 1,40
Dipropylene glycol 

Isopropyl myristate

Oleyl alcol

2,00 

0,20

1,00

Dầu thầu dầu

Dầu thầu dầu là nguyên liệu truyền thống tạo nền cho son môi do có nhiều đặc tính hữu ích, đóng vai trò là dung môi cho bromoacid. Khả năng duy trì độ nhớt ngay cả khi ở nhiệt độ cao và tính bám dính tốt giúp các nguyên liệu được nghiền mịn và phân tán dễ dàng hơn. Những đặc tính khác bao gồm tính dầu nhờn góp phần tạo độ bóng và làm mềm, dùng quá nhiều sẽ tăng ma sát khi thoa và tạo cảm giác nặng nề, khó chịu. Dầu thầu dầu cũng là một dung môi tuyệt vời cho các loại sáp, góp phần tạo cấu trúc ổn định tốt và chống nứt gãy cho son môi. Thành phần này có thể được sử dụng đến 60% dù có mùi vị khó chịu và dễ bị ôi, vì vậy cần thân trọng chọn lựa loại dầu thầu dầu chất lượng cao để giảm thiểu mùi hôi, hạn chế chi phí phát sinh cho sản phẩm.

Alcol béo dạng lỏng

Alcol béo dạng lỏng là dung môi tốt để hòa tan các loại sáp phân cực, thường được kết hợp trong son môi và cũng là dung môi cho bromoacid. Alcol phân nhánh như isocetyl, isostearyl và octyldodecyl được ưa chuộng hơn rượu oleyl vì ít gây mùi khó chịu và không bị ôi. Thành phần này góp vào sự lan tỏa trong quá trình sử dụng và đóng vai trò là các dung môi cho các nguyên liệu phân cực và không phân cực trong công thức.

Ester

Ester là thành phần quan trọng để tạo nền son, có thể là các ester alkyl mạch thẳng và phân nhánh chứa một hoặc nhiều gốc acid béo. Các ester có trọng lượng phân tử cao hơn như triisostearyl trilinoleate, triisocetyl citrate, dầu thực vật trùng hợp, tridecyl trimellitate, isostearyl stearoyl stearate, glyceryl triacetyl hydroxy stearate, poly glyceryl isostearate có thể thay thế một phần hoặc thay thế hoàn toàn dầu thầu dầu. Các ester nhẹ hơn như isopropyl isostearate, caprylic/capric triglyceride, octyl palmitate, octyl hydroxystearate, acetylated lanolin alcohol và coco caprylate/caprate tạo cảm giác nhẹ và dễ dàng lan tỏa hơn khi sử dụng. Ester lactate mang lại cảm giác trơn trượt nhưng không gây nhờn cho da. Sản phẩm phải có thể chất mịn màng và đồng nhất, không “đổ mồ hôi” khi nhiệt độ thay đổi đến 50°C.

Dầu khoáng

Dầu khoáng đã được sử dụng để tạo bề mặt bóng cho thỏi son và lớp son bám lại trên môi. Hydrocarbon tinh khiết cao phù hợp với các nhà bào chế muốn tránh các ý nghĩa tiêu cực vì tên gọi “dầu khoáng” mang theo sự nhờn rít và có nguồn gốc từ dầu mỏ. Khi thêm hydrocarbon vào công thức son môi phân cực, sự lựa chọn dung môi phải đảm bảo sự ổn định cho sản phẩm.

Các thành phần cơ bản của son môi

Sáp

Sáp được dùng tạo nền son để làm tăng nhiệt độ nóng chảy và độ cứng cần thiết cho sản phẩm,  dễ đổ khuôn, khô nhanh, dễ sử dụng với bề mặt sáng bóng và độ cứng phù hợp. Thành phần này thường được dùng với hàm lượng 8-15% trong công thức.

Sáp carnauba

Đây là loại sáp có nguồn gốc từ thực vật, độ cứng lớn, được dùng để nâng cao nhiệt độ nóng chảy, cải thiện độ cứng, độ đồng nhất, độ sáng bóng và tạo sự co giãn trong quá trình đổ khuôn.

Candelilla

Tương tự như sáp carnauba nhưng có nhiệt độ nóng chảy thấp hơn, ít giòn hơn.

Sáp hydrocarbon vô định hình

Sáp hydrocarbon vô định hình trong dầu khoáng, điển hình là ozokerite hay ceresin, có khả năng tạo thể chất dạng sợi ngắn và cải thiện độ ổn định trong không gian 3 chiều.

Sáp vi tinh thể

Sáp vi tinh thể được sử dụng để điều chỉnh lưu biến của sản phẩm mà không làm giảm điểm nóng chảy, tạo cấu trúc ổn định với độ co thấp hơn, không có điểm chuyển tiếp dưới nhiệt độ hóa rắn, do đó ít gây tạo lớp màng trên bề mặt. Dùng hàm lượng quá nhiều có thể gây dính và khó đổ khuôn.

Sáp ong

Sáp ong là chất làm cứng truyền thống cho dầu thầu dầu, có thể tạo ra gây nổi hạt ở bề mặt, xỉn màu hoặc đổ dầu nếu dùng với hàm lượng lớn.

Bơ cacao

Bơ cacao được xem là một nguyên liệu lý tưởng do có điểm nóng chảy thấp hơn nhiệt độ cơ thể người, vì vậy được ứng dụng trong rất nhiều sản phẩm. Tuy nhiên, nguyên liệu này có thể đẩy các loại sáp lên bề mặt như với thanh chocolate.

Dầu thực vật hydro hóa

Dầu thực vật hydro hóa là nguyên liệu giống như sáp, thể chất rắn hơn và ít bị ôi hơn so với các loại dầu chưa được xử lý. Nổi bật nhất trong nhóm này là dầu thầu dầu hydro hóa – một loại sáp nóng chảy cao có khả năng hòa tan tốt trong các loại dầu phân cực. Một số loại nguyên liệu mềm hơn sẽ được sử dụng trong sản xuất son môi.

Lanolin, dầu lanolin và lanolin hấp thụ

Thành phần hữu ích này có thể sử dụng đến 10% nhờ khả năng làm mềm và mịn da. Chúng có đặc tính dung môi tốt, tạo sự kết dính cho các thành phần khác, giảm hiện tượng “mồ hôi” và gãy son, có khả năng hóa dẻo, đóng vai trò là chất mang giúp thấm ướt các phẩm màu và cung cấp độ bám cần thiết lên môi. Các ester có độ tinh khiết cao có nguồn gốc từ lanolin sterol được dùng để tạo ra sản phẩm “sạch” hơn.

Petroleum jelly

Petroleum jelly và các loại dầu parafin có độ nhớt cao được sử dụng để điều chỉnh sự đồng nhất, đóng vai trò như chất bôi trơn và cải thiện tính lan tỏa cho sản phẩm. Sử dụng với lượng lớn sẽ làm giảm các đặc tính bám dính và khó hòa tan trên nền son phân cực.

Polyethylene

Polyethylene được sử dụng để nâng cao điểm nóng chảy và cải thiện độ ổn định sản phẩm ở nhiệt độ cao, chỉ có thể được dùng làm dung môi trong các công thức có hàm lượng dầu không phân cực đáng kể. Khi điều chế phải đun nóng hỗn hợp đến trên 90°C để hòa tan polyethylene; điều này có thể gây hại đến các nguyên liệu khác trong công thức. Các acid béo và alcol tổng hợp có trọng lượng phân tử cao (> 22C) cũng giúp cải thiện độ ổn định ở nhiệt độ cao và dễ hòa tan trong dầu phân cực hơn polyethylene.

Silicone biến đổi hữu cơ

Silicone biến đổi hữu cơ ở dạng sáp hoặc lỏng được sử dụng trong công thức son môi để tạo độ trơn, cảm giác nhẹ nhàng và giảm nhờn dính khi sử dụng. Ester phân cực trọng lượng phân tử thấp được sử dụng làm dung môi để tạo sự tương thích giữa silicone và sáp hữu cơ.

Từ những mô tả ở trên, có thể thấy rằng không có một hoặc hai loại nguyên liệu nào có thể cung cấp tất cả các tính chất và phẩm chất cần có trong một thỏi son, vì vậy thành phần công thức của một thỏi son rất phức tạp và thay đổi đa dạng qua từng thời kỳ.

Thành phần phụ trợ

Tác nhân thấm ướt

Đây là các chất hoạt động bề mặt có HLB thấp, được sử dụng để cải thiện sự thấm ướt và phân tán phẩm màu, đặc biệt là các sắc tố vô cơ. Lecithin có thể được dùng để phân tán phẩm màu và cải thiện độ bám dính cho thỏi son.

Chất chống oxy hóa

Chất chống oxy hóa được thêm vào các công thức để làm chậm quá trình ôi thiu của sáp và dầu. BHA, BHT, propyl gallate, chiết xuất hương thảo và acid citric là thành phần thường được sử dụng. Tocopheryl acetate và ascorbyl palmitate kém ổn định ở nhiệt độ xử lý cao kéo dài trong quá trình sản xuất nên ít được dùng.

Chất kháng khuẩn

Môi trường khan của các thỏi son môi không phải điều kiện tốt cho sự phát triển của vi sinh vật, vì vậy thành phần này ít khi được sử dụng, thường dùng nhất là paraben.

Chất tạo mùi

Đây là thành phần quan trọng, thường được dùng với hàm lượng tương đối lớn để thu hút người mua hàng. Chất tạo mùi vừa phải che được mùi khó chịu, an toàn, không độc tính, ổn định và tương thích với nền son.

Hoahocngaynay.com

Chia sẻ:

Tin liên quan:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

17 − 10 =