Thuốc kháng virus molnupiravir ra đời như thế nào?

Molnupiravir ban đầu được nghiên cứu để trị bệnh cúm, song hãng dược Merck hợp tác với Ridgeback BioTherapeutics thử nghiệm thuốc với Covid-19 kể từ năm 2020.

Khi Covid-19 còn hoành hành tại Ấn Độ, Merck thông báo ký thỏa thuận cấp phép tự nguyện, không độc quyền với 5 nhà sản xuất để tăng tốc và mở rộng khả năng tiếp cận molnupiravir. Đây còn gọi là hợp đồng License, cho phép các công ty sử dụng sáng chế của Merck (có thể mất phí hoặc không), trong khi hãng vẫn tiếp tục giữ quyền sở hữu thuốc. Từ đó, thử nghiệm lâm sàng giai đoạn hai và ba có tên MOVe-OUT diễn ra trên bệnh nhân ngoại trú của nước này.

Molnupiravir

“Đây không chỉ là vấn đề của Ấn Độ. Nó là vấn đề của toàn thế giới. Chúng ta đang sống trong một xã hội liên kết với nhau, nơi mọi người chung một hoàn cảnh”, tiến sĩ George Painter, giám đốc Sáng kiến Thương mại hóa Thuốc phi lợi nhuận DRIVE của Đại học Emory, nhận định.

Khi thế giới chuyển dần sang chiến lược sống chung với Covid-19 thay vì giãn cách xã hội, molnupiravir dần trở thành cánh cửa hy vọng mở ra thời kỳ bình thường mới, bên cạnh vaccine. Thuốc hiệu quả và an toàn, giúp giảm gần 50% nguy cơ nhập viện và tử vong vì Covid-19. Kết quả khả quan đến mức hai hãng, với sự tham vấn của Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA), đã quyết định ngừng tiếp nhận tình nguyện viên và bắt đầu quá trình đệ đơn đăng ký phê duyệt.

Ít ai biết, nghiên cứu ban đầu về molnupiravir khởi động rất lâu trước đại dịch, từ năm 2003, khi các nhà khoa học tại Đại học Emory đang làm việc với hợp chất liên quan, gọi là EIDD-1931/NHC. Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm trên tế bào người và chuột cho thấy hợp chất hiệu quả chống lại một loạt virus RNA như viêm gan C, cúm mùa, virus corona gây ra SARS và MERS.

Song EIDD-1931/NHC không thể hấp thụ tốt qua đường uống. Nghiên cứu trước đó cũng cho thấy nó gây đột biến trong tế bào vật chủ. Vì vậy, công trình này từng bị gạt sang một bên.

Năm 2013, Cơ quan Giảm thiểu Đe dọa Quốc phòng yêu cầu giới chuyên gia trình đề xuất điều trị virus viêm não ngựa Venezuela – một virus RNA đặc hữu ở châu Mỹ gây chết người. Các nhà nghiên cứu của DRIVE đã lục lại thư viện hợp chất sẵn có và tìm được EIDD-1931/NHC.

Bằng cách thay đổi cấu trúc hóa học, họ biến nó thành một loại tiền chất (pro-drug). Đây là hợp chất, sau khi dùng, được chuyển hóa (chuyển đổi trong cơ thể) thành một loại thuốc có hoạt tính dược lý. Tiền chất mới gọi là EIDD-2801, sau này được đổi tên thành molnupiravir, có khả năng hấp thụ tốt qua đường uống.

“Khi bắt đầu xem xét các ứng viên thuốc, chúng tôi nhận thấy nó có hoạt tính phổ rộng, chống lại nhiều virus đường hô hấp, từ cúm gia cầm gây tử vong đến virus corona gây bệnh SARS, MERS và cuối cùng là Covid-19”, tiến sĩ Painter cho biết.

Thuốc kháng virus molnupiravir ra đời như thế nào

Cấu trúc molnupiravir 

Molnupiravir cũng có những đặc tính hữu ích trong trường hợp khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng. Nó nhắm mục tiêu vào thành phần cụ thể của virus RNA. Thuốc dùng qua đường uống, có thể sử dụng ở nhà, rất hữu ích với các bệnh nhân cấp tính, khi virus mới bắt đầu lan rộng trong cơ thể. Molnupiravir vượt qua hàng rào máu não – phần quan trọng để điều trị virus có thể lây nhiễm vào hệ thần kinh trung ương. Nó tác dụng mạnh mẽ và nhanh chóng, hiệu quả cho các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp. Với hoạt tính nhanh chóng, thuốc hữu ích với các mầm bệnh có thời gian điều trị hẹp.

Ngoài ra, nghiên cứu ở chồn hương và tế bào đường hô hấp của người nhiễm cúm cho thấy molnupiravir có thể ngăn ngừa tình trạng kháng thuốc – một vấn đề ngày càng nan giải trong những năm gần đây.

Từ những nghiên cứu trước đó, Viện Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm Quốc gia Mỹ tài trợ 15,89 triệu USD để phát triển loại thuốc này, ban đầu là để điều trị cho người bệnh cúm.

Đến cuối năm 2019, các chuyên gia tại DRIVE chuẩn bị nộp đơn đăng ký cho molnupiravir (khi ấy vẫn có tên là EIDD-2801) để điều trị cúm. Song đại dịch kéo đến, các thử nghiệm trên người bị tạm dừng và tất cả nguồn chuyển sang Covid-19.

DRIVE hợp tác và chuyển giao đơn đăng ký cho hãng sinh phẩm Ridgeback BioTherapeutics vào tháng 1/2020. Ridgeback nhanh chóng khởi động nghiên cứu giai đoạn một, xem xét dược động học, tính an toàn và khả năng dung nạp molnupiravir ở người nhiễm nCoV.

Trong vòng 9 tuần, kết quả nghiên cứu giai đoạn một cho thấy thuốc “khả dụng đường uống, dung nạp tốt và có tính an toàn cao”, theo tiến sĩ Painter. Thử nghiệm diễn ra theo phương pháp mù đôi trên 130 người. Họ được chia thành hai nhóm ngẫu nhiên dùng thuốc hoặc giả dược. Cả người phát và nhận thuốc không biết mình dùng loại nào.

Kết quả ban đầu giúp thiết lập liều lượng phù hợp và cho thấy thuốc được hấp thụ nhanh chóng trong chưa đầy hai giờ. Dưới một nửa số người tham gia báo cáo tác dụng phụ. 93,3% tác dụng phụ khá nhẹ.

Hợp tác với Merck, Ridgeback tiếp tục thử nghiệm giai đoạn hai, kết quả trình bày tại Hội nghị Retrovirus và Nhiễm trùng cơ hội (CROI) vào tháng 3/2021. Thử nghiệm có 175 bệnh nhân Covid-19 tham gia.

Sau 5 ngày theo dõi, chuyên gia không phát hiện virus từ mẫu dịch mũi của người uống molnupiravir. Trong khi đó, 24% người dùng giả dược vẫn có virus vào ngày thứ 5.

“Hy vọng thuốc sẽ tác động lên sự lây nhiễm trong giai đoạn đầu bệnh, đồng thời giảm bớt gánh nặng cho một hệ thống y tế đã gặp nhiều áp lực”, ông Painter nói.

Hôm 1/10, đại diện Merck cho biết molnupiravir có tác dụng giảm gần 50% nguy cơ nhập viện và tử vong vì Covid-19, sau khi phân tích thử nghiệm lâm sàng giai đoạn ba với 775 bệnh nhân. Ngoài ra, molnupiravir hiệu quả với bệnh nhân nhiễm bất cứ biến thể nào của nCoV, kể cả Delta có khả năng lây truyền cao.

Hoahocngaynay.com

Nguồn: VnExpress/Medpage Today

Chia sẻ:

Tin liên quan:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

8 + 20 =